CHIA SẺ PHẦN TRĂM DOANH THU (GTO) – PHẦN 3

5. Cách vận hành của hợp đồng GTO:

Từng chủ đầu tư khác nhau có cách vận hành và kiểm soát doanh thu của khách hàng một cách khác nhau. Dưới đây là một số cách được áp dụng:

  • Department Store: 

Thông thường department store sẽ có những quầy tính tiền riêng được đặt ở những vị trí cố định. Khách thuê sẽ không được phép thu tiền trực tiếp của khách hàng mà phải hướng dẫn khách đến quầy tính tiền chung. Ở đây, thu ngân của trung tâm sẽ thanh toán, in hóa đơn và record doanh thu lại cho từng gian hàng. Tùy theo hợp đồng cụ thể của từng khách thuê, chủ đầu tư sẽ trả lại doanh thu cho khách thuê theo chu kì thanh toán mà 2 bên thỏa thuận.

  • Shopping Mall X: 

Shopping Mall X là CĐT có kinh nghiệm khá lâu trong ngành kinh doanh cho thuê bán lẻ. Tất cả hợp đồng cho thuê của Shopping Mall này đều chỉ áp dụng GTO. Vì vậy, ngay từ ban đầu CĐT đã rất cẩn trọng trong việc quản lý khách hàng. 

Mở đầu là việc áp dụng đồng nhất một loại EPOS được chọn bởi CĐT và link toàn bộ dự liệu vào hệ thống của CĐT. Từ đó, CĐT có thể kiểm soát được doanh thu trực tiếp của khách hàng. Từ những dữ liệu này, cuối tháng CĐT sẽ xuất bill giá trị tương ứng với hợp đồng của từng khách thuê để thu tiền thuê hàng tháng. 

Ngoài ra, cuối năm khách hàng cũng sẽ có trách nhiệm phải nộp lại bản sales report được audit bởi đơn vị có thẩm quyền trong trường hợp CĐT yêu cầu. 

  • Shopping Mall Y: 

Shopping Mall Y cũng có khá nhiều kinh nghiệm trong việc kiểm soát doanh thu của khách hàng. Tuy nhiên, CĐT lại có tính linh hoạt hơn trong việc áp dụng cả 2 loại hình thuê là cố định và chia sẻ phần trăm doanh thu. 

CĐT Y không thu tiền trực tiếp từ khách hàng cũng không áp dụng việc link EPOS của khách. Thay vào đó, CĐT này đề nghị khách hàng sử dụng POS sẵn có của cửa hàng. Vào cuối ngày thì nhân viên của khách hàng sẽ xuống nộp doanh thu ngày kèm report in từ POS ra cho kế toán của mall quản lý. Theo mỗi 10 ngày, 20 ngày hoặc 30 ngày CĐT sẽ trừ tiền thuê của khách hàng và trả lại phần doanh thu còn lại. 

  • Shopping Mall Z: 

Shopping Mall Z thiên nhiều hơn về cho thuê cố định. Tuy nhiên, CĐT cũng vẫn áp dụng cho các nghành hàng như FNB, Fashion hay Accessorize chia sẻ phần trăm doanh thu. 

CĐT Y áp cho khách thuê mức thuê tối thiểu. Với mức tối thiểu này, đầu hàng quý khách hàng sẽ chuyển ứng trước tiền thuê dự trù. Sau hàng tháng thì khách thuê có trách nhiệm nộp báo cáo doanh thu có đóng dấu của khách hàng để tính ra phần chênh lệch còn lại để đóng cho CĐT. 

Đó là kinh nghiệm thực tế và vận hành của các CĐT hiện tại. Tuy nhiên, cách vận hành này của mỗi CĐT đều có cái dở và có cái hay riêng. Để áp dụng được hình thức thuê GTO thì có những điểm sau mình thấy cần phải lưu ý: 

  • Tìm phương thức thanh toán hợp lý để đảm bảo dòng tiền cho dự án bằng cách thu phí tối thiểu trước
  • Không nên quá tin vào số liệu của khách hàng mà cần phải audit vào cuối kỳ hàng năm
  • Trong trường hợp sai số của khách hàng lớn hơn 2-3% thì cần xem xét đến việc thanh lý hợp đồng
  • Yêu cầu khách hàng trong việc nghiêm túc sử dụng POS và audit hàng năm
  • Rõ ràng trong hợp đồng thương thảo về cách thức làm việc 

6. Dấu doanh thu

Dấu doanh thu là vấn đề muôn thuở mà các CĐT ai cũng lo ngại. Đây cũng là một trong những hạn chế mang tính quyết định trong việc áp dụng hình thức GTO. Sau đây là một số kinh nghiệm bản thân mình đúc kết được trong việc kiểm soát doanh thu một cách tốt hơn: 

  • Audit! Audit! Audit! Luôn luôn phải audit 

Một công ty vận hành việc xảy ra lỗi trong record doanh thu là khá thường xuyên. Vì vậy, việc audit report hàng năm của khách hàng là một việc hết sức quan trọng. Audit Report là minh chứng duy nhất số liệu vận hành của khách hàng được kiểm chứng bởi một đơn vị thứ 3 có thẩm quyền

  • Audit bởi công ty kiểm toán uy tín

Ở Việt Nam điều gì cũng có thể xảy ra. Ngay cả việc mua thông tin và số liệu giả. Chính vì vậy, việc audit của các công ty khách hàng cần được thực hiện bởi những công ty kiểm toán uy tính như Emst & Young, Deloitte, KPMG hay Pricewaterhouse Coopers

  • Thu tiền trực tiếp đối với các đơn vị cá nhân và công ty con

Chi phí để audit là một chi phí không hề nhỏ và đa phần chỉ được sử dụng với các công ty lớn hoặc tập đoàn. Đối với các đơn vị cá nhân hoặc công ty không có chi phí trong phần này thì việc thu tiền mặt từ khách hàng trực tiếp sẽ có lợi hơn để kiểm soát doanh thu

  • Mua hàng online lấy hàng từ cửa hàng trực tiếp

Trong thời đại online shopping bùng nổ thì các nhà bán lẻ không thể bỏ qua lợi ích kinh doanh này. Hàng xuất đi online bán cho khách sẽ có 2 nguồn là xuất từ kho hoặc xuất từ các cửa hàng trong khu vực. Khi xuất bán từ các cửa hàng trong khu vực thì doanh thu này sẽ được chia về cửa hàng trực tiếp hoặc doanh thu online. Việc này cần được làm rõ với khách hàng để tránh thất thoát doanh thu của cửa hàng

  • Khách thuê cho thuê lại vị trí trưng bày 

Một số thương hiệu khi mới đi ra thị trường không có kinh phí lớn để thua mặt bằng tại trung tâm thương mại. Do đó, các nhà bán lẻ này thường sẽ thuê lại các quầy kệ của các cửa hàng đã có sẵn trong mall để giới thiệu sản phẩm

  • Doanh thu của khách hàng từ kiosk hoặc máy tính, máy game trong cửa hàng 

Trong các khu trung tâm giải trí hoặc rạp chiếu phim, chúng ta nhìn thấy các máy trò chơi, kiosk bán sản phẩm hoặc quảng cáo sản phẩm. Những chi phí này khách thuê sẽ thu lại từ bên thứ 3 và sẽ là những khoản doanh thu mà thường CĐT không ngờ tới

  • Phí nhận lại hàng

Các cửa hàng bán lẻ lớn khi kinh doanh thường có chương trình khuyến mại trong việc đổi trả hàng trong 1 khoảng thời gian nhất định. Ví dụ, 15 hoặc 30 ngày sử dụng. Khi khách hàng trả lại sản phẩm này thì thường khách sẽ phải trả một số tiền tương ứng 10-20% giá trị sản phẩm để phục vụ cho các mục đích như nhân viên cần đóng gói lại sản phẩm, kiểm tra sản phẩm, giảm giá… Thường thì chi phí đổi trả này sẽ áp dụng với các nhà bán lẻ liên quan đến đồ gia dụng. máy vi tính, giường nệm, sản phẩm nội thất…

  • Chi phí làm thẻ thành viên

Ở Việt Nam thì loại hình này chưa được áp dụng rộng rãi mà thông thường khách hàng sẽ có một mức chi tiêu nhất định để được phép làm thẻ. Tuy nhiên, ở nước ngoài phần chi phí này được áp dụng và luôn nằm trong doanh thu của cửa hàng

  • Chi phí catering

Phần này được áp dụng cho các cửa hàng FnB. Một số cửa hàng ở trung tâm thương mại được sử dụng làm bếp luân chuyển. Những cửa hàng này thay vì bán trực tiếp tại trung tâm cũng sẽ áp dụng cả phần catering nếu như người mua có nhu cầu 

  • Bồi hoàn cho doanh thu và hoa hồng từ các nhà bán buôn

Đây là một hình thức khá phổ biến cho các nhà bán lẻ điện máy và đồ gia dụng như FPT Shop hoặc Thế giới di động. Đa phần các nhà bán lẻ sẽ có thỏa thuận riêng với các nhà phân phối và sản xuất trong việc được nhận bồi hoàn hoặc hoa hồng doanh thu nếu doanh thu đạt ở một mức nào đó. Đây là một phần cũng cần được lưu ý và thương thảo kĩ lưỡng khi đàm phán với khách thuê

  • Các sản phẩm bán kèm và dịch vụ ngoài cho các dịch vụ làm đẹp

Việc bán thêm các sản phẩm làm đẹp đa phần đều được áp dụng cho các trung tâm thẩm mỹ và làm đẹp. Ngoài ra, các trung tâm này còn bán các gói dịch vụ ngoài như massage tại nhà. 

  • Phí wifi

Tránh tình trạng sử dụng wifi miễn phí và ở lại quá lâu, các gian hàng Fnb hiện tại cũng đang áp dụng việc tính phí wifi này. Thông thường khi mua một sản phẩm đồ ăn hoặc đồ uống, khách hàng sẽ nhận được code sử dụng wifi miễn phí trong khoảng thời gian nhất định. Sau thời gian này, khách hàng sẽ phải bỏ ra một số tiền để kết nối lại với wifi. 

Hi, I am Hoang Anh - a leasing geek! I am basically naturally curious. If you love working in the real estate industry like me, you are in the right place. Let reveal all the secret and my secret will help you to understand more about retail and commercial leasing in Vietnam.

Leave a reply:

Your email address will not be published.

Site Footer